Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiến Thức Xã Hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiến Thức Xã Hội. Hiển thị tất cả bài đăng

giá mà biết sớm thì tốt quá.mới bị bong gân xong nhưng mà làm ngược lại.

Không có văn bản thay thế tự động nào.


Trong hình ảnh có thể có: văn bản


Trong hình ảnh có thể có: văn bản



Trong hình ảnh có thể có: văn bản


Không có văn bản thay thế tự động nào.





Kết quả hình ảnh cho đồng tiền

Thứ tự đồng tiền việt nam:

Đồng tiền mạnh nhất
Kuwait: 1 USD = 0,30 dinar Kuwait
Oman: 1 USD = 0,38 Rial Oman
Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh: 1 USD = 0,69 Bảng Anh
Jordan: 1 USD = 0,71 dinar Jordan
Singapore: 1 USD = 1,35 đô la Singapore
Đồng tiền yếu nhất
Iran: 1 USD = 30.165 rial Iran
Việt Nam: 1 USD = 22.281 Việt Nam đồng
Indonesia: 1 USD = 13.236 rupiah Indonesia
Lào: 1 USD = 8.220 kíp Lào 
Campuchia: 1 USD = 4.005 riel Campuchia

Giới thiệu:

Đơn vị tiền tệ có giá trị thấp nhất là loại tiền tệ mà một đơn vị của nó mua được ít tiền ngoại tệ nhất hoặc mua được ít thức ăn nhất. Những đơn vị tiền tệ nhỏ hơn sẽ không được xét đến khi người ta so sánh giá trị đồng tiền.

Ðơn vị đếm cơ bản của tiền cổ Việt Nam là quan, tiền và đồng. Từ thời cổ đó đã sử dụng tiền đồng rồi, mà "đồng" là đơn vị đếm nhỏ nhất. Một quan bằng 10 tiền. Còn một tiền thì bằng từ 60 đồng đến 100 đồng tùy thời. Sau 1954 tiền của ta gọi theo thứ tự là :tiền Xu rồi tới tiền hào và cuối cùng là tiền đồng. Trãi qua nhiều thời từ pk bắc thuộc, rồi tới VNCH và ngày nay mình cũng dùng đơn vị tiền tệ là "đồng". Nhưng giá trị qui đổi tiền đồng của ta với tiền của các quốc gia của mỗi thời khác nhau.
Mệnh giá tiền tệ phụ thuộc vào một trong hai yêu tố: có vật bảo chứng là vàng, kim loại quý, trái phiếu, ngoại tệ... hoặc tổng giá trị hàng hóa trong một nền kinh tế. 

Tiền giấy nó cũng giống như trái phiếu do chính phủ hay do một ngân hàng nào đó phát hành và bên phát hành cam kêt chịu trách nhiệm nợ. Trước đây, chính phủ VN Cộng Hòa dùng vàng để bảo chứng cho đồng tiền của mình. Nhưng nay, chính phủ CSVN không có vật bảo chứng thì họ dùng tổng giá trị hàng hóa để bảo chứng. Nếu dùng tổng giá trị hàng hóa để bảo chứng thì nền kinh tế phải là môt nền kinh tế có sự ổn định về lâu dài và phải mạnh mẽ, ở đây nó bao hàm cả về thể chế chính trị cũng phải được ổn định bền vững, vì đồng tiền do nhà nước phát hành đó chính là giấy nợ cam kết của nhà nước đối với nó, để chịu trách nhiệm giá trị tiền tệ kèm theo nó có nhiều điều kiện rất chặt chẽ. Giá trị về mặt kinh tế chính trị của quốc gia bảo đảm cho giá trị của đồng tiền của mình. Đó là điều kiện để các quốc gia khác chấp nhận đồng tiền đó trong thanh toán giao dịch với họ. Đó là lý do tại sao mà cho dù nền kinh tế Trung cộng lớn mạnh khá nhanh, nhưng yêu sách để đồng tiền của họ dùng làm phương tiện thanh toán quốc tế như USD thì vẫn còn xa vời.

Vậy tại sao trên thế giới, mệnh giá đồng việt nam lại thấp

Đồng tiền Việt Nam khi phát hành ra thi trường không được bảo đảm = 1 lượng vàng bảo đảm mệnh giá tương tương với tờ tiền phát hành ra như các đồng tiền mạnh khác: USD hoặc Uero/ bảng anh... Nên đồng tiền Việt nam không có giá trị trên thế giới mà chỉ có giá trị trong lãnh thổ Việt Nam.

Khi các đồng tiền mạnh: USD,bảng Anh hoặc Euro...khi họ phát hành 1 loại tiền có mệnh giá nào đó,ví dụ: 100 USD chẳng hạn. Thì cục dự trữ liên bang Mỹ sẽ phải đảm bảo gía trị của đồng tiền ấy = 1 số vàng nhất định (ví dụ như 100gam vàng) để cho đồng tiền này khi lưu hành trên toàn thế giới nó không bị mất giá (nếu đơn vị tiền tệ bị mất giá thì lượng vàng đó vẫn đảm bảo giá trị của nó) nên đồng tiền đó nó có giá và giữ được giá trị nhất định. Bởi thế nhớ hồi sinh viên học môn Kinh tế chính trị, cô giáo bảo " ko ai tích trữ tiền", mà chỉ mua vàng dự trữ thôi".. 

Đồng tiền Việt Nam không đảm bảo được như thế nên giá trị nó không cao khi đi ra khỏi lãnh thổ Việt nam. Bên cạnh đó do lạm dụng việc phát hành tiền mặt (tiền chúng ta tiêu chỉ là tờ giấy còn đứng sau nó đảm bảo cho sự tồn tai của tiền chính là vàng). Nếu phát hành 4 triệu đồng nhưng không có 1 chỉ vàng cất vào kho đảm bảo thì lạm phát)..Vì vậy việc phát hành tiền mệnh giá 200.000đ rồi 500.000đ, là biểu hiện của lạm phát. Thằng Nhật Bản cũng xài đơn vị là đồng Yên , 1 Yên chỉ bằng khoảng 273 đồng Việt Nam. Nhưng đồng Yên được xem là một ngoại tệ mạnh trên thế giớ vì nó có vàng dự trự đảm bảo như trên đã nói. Trong khi đồng Dollar Úc bằng khoảng 20.444 đồng Việt Nam. 1 Đô la Úc đổi ra tiền việt, số tiền việt được đổi ra còn nhiều hơn 1usd đổi ra tiền Việt, nhưng tiền Úc cũng không được xem là một ngoại tệ mạnh. Lạm phát của VN chỉ thua ZIMBABUWE. Còn đồng tiền VN bây giờ không có chữ ký của ai cả, tiền của 1 quốc gia mà không có chữ ký cũng là yếu tố khảng định tiền đó có giá trị hay không, thời VNCH tiền khi đó còn thấy có chữ ký.

Cụ thể:

-  Thứ nhất, tiền VN không có bất kỳ sự bảo chứng nào. Ngay cả USD dùng để dự trữ cho ngoại hối cũng đang dần cạn kiệt. Bạn thử tưởng tượng một ngày nào đó VN cạn sạch USD dự trữ, các sứ quán CSVN tại nước ngoài sẽ dùng gì để trả tiền mặt bằng, tiền điện, nước, điện thoại cho nước chủ nhà? Chắc chắn họ sẽ bị đuổi về VN giống như thời Liên Sô sụp đổ, không ai thanh toán chi phí cho các lãnh sứ quán của họ ở nước ngoài.

- Thứ hai, nền kinh tế VN không ổn định và đang trên đà lao dốc, lạm phát cao, các chính sách phục vụ cho kinh tế được chính quyền ban hành thay đổi, biến động liên tục gây bất lợi cho kinh tế. 

- Thứ 3, một quốc gia có sự chống đối ngầm của nhân dân về mặt chính trị đó là quốc gia bất ổn. Khi chính trị không ổn định thì cam kết cho những giấy nợ là tiền tệ do nhà nước đó phát hành không được chắc chắn.


- Thứ 4, trong quá khứ VN đã có rất nhiều chiến dịch đổi tiền bởi chính quyền CSVN, tức dùng tờ tiền mệnh giá lớn để đổi lấy tiền mệnh giá nhỏ hơn và mỗi người chỉ được đổi một lượng tiền nhất định, số tiền còn lại xem như giấy lộn vô giá trị.

- Thứ 5, chính phủ không có chính sách quản lý tiền tệ hiệu quả. Trong những năm qua,đã in tiền và tung vô tội vạ vào nền kinh tế khiến lạm phát luôn luôn tăng.Phải in tiền như vậy để mua lấy USD trả nợ cho các tập đoàn kinh tế nhà nước tham nhũng, lỗ. Điều này làm giảm giá trị hàng hóa trong nền kinh tế và đó chính là động lực đẩy mệnh giá tiền phải tăng lên thường xuyên. Chẳng hạn, năm 2010, trung bình 1 tô phở bình dân có giá 10.000 VNđồng. Năm 2011, cũng tô phở đó tăng giá lên 20.000 VNđồng. Năm 2012, cũng tô phở đó tăng giá lên 30.000. Sang 2013...

Đơn giản hãy nhìn vào tờ tiền VN đồng xem có hiển thị giá trị cam kết nào không? Không chữ ký hoặc năm phát hành, chỉ có một dãy số gọi là số series cho có lệ chứ cũng chẳng có giá trị gì.
I.MỞ ĐẦU CUỘC THƯƠNG LƯỢNG (part 1)


Kết quả hình ảnh cho hinh ảnh đàm phán

 1  – Đòi hỏi nhiều hơn những gì bạn muốn

Một trong những nguyên tắc chủ yếu của thương lượng hiệu quả là bạn nên đòi hỏi từ đối phương nhiều hơn những gì mình muốn. Tại sao? Câu trả lời là nó cho bạn các cơ hội để thương lượng. Vì, nếu bán hàng, bạn chỉ có thể giảm giá chứ không bao giờ có thể tăng giá; còn khi là người mua, bạn thường gặp giá tăng chứ ít khi được giảm giá.

Càng biết ít về đối phương, lời đề nghị ban đầu của bạn càng phải cao, vì:

Thứ nhất, bạn có thể sai lầm vì những giả định của mình. Vì bạn không biết rõ về đối phương và nhu cầu của họ nên có thể họ sẵn sàng trả nhiều hơn mức bạn nghĩ. Còn nếu bán hàng thì họ có thể sẵn sàng chấp nhận mức thấp hơn bạn nghĩ.

Thứ hai, nếu đây là một mối quan hệ mới, bạn sẽ thể hiện thiện chí hợp tác khi có thể đưa ra nhiều nhượng bộ hơn. Càng biết về đối phương và nhu cầu của họ, bạn càng có thể điều chỉnh đề nghị của mình cho phù hợp. Nếu đối phương chưa biết về bạn, yêu cầu ban đầu của họ có thể còn thái quá hơn.

Khi yêu cầu cao hơn vị thế chính đáng tối đa, bạn hãy gợi mở một số điều có thể linh hoạt. Nếu đề nghị ban đầu của bạn có vẻ thái quá, và thái độ của bạn là “đồng ý hay là biến”, bạn thậm chí còn không thể bắt đầu cuộc thương lương. Phản ứng của đối phương có thể sẽ là “Vậy thì chúng ta không có gì để nói chuyện nữa”. Bạn vẫn cò thể thoát khỏi vị thế mở đầu thái quá đó nếu gợi mở một số điều linh hoạt.

Ngoài ra, đề nghị nhiều hơn những gì mình mong đợi sẽ làm gia tăng nhận thức về giá trị của những thứ bạn đề nghị. Nếu bạn bán một chiếc ô tô và đề nghị mức giá cao hơn mức mong đợi sẽ khiến người nghe tin rằng chiếc xe có giá trị cao.

Một lợi thế khác của việc đề nghị nhiều hơn là giúp ngăn cuộc thương lượng rơi vào thế bế tắc, bởi vì còn có thể thỏa thuận.

Lý do cuối cùng nên đề nghị nhiều hơn là đó là cách duy nhất để bạn có thể tạo ra một hoàn cảnh mà đối phương cảm thấy mình đã thắng (khi thương lượng thành công).

Câu hỏi tiếp theo là, khi đề nghị nhiều hơn mức mong đợi, nhiều hơn bao nhiêu? Câu trả lời là bạn nên chia nhỏ khoảng cách đến mục tiêu. Khoảng cách này nên bằng khoảng cách đề nghị của đối phương.

Một ví dụ nhỏ: Con trai bạn nói rằng nó cần 20 đô la để tham gia chuyến câu cá cuối tuần. Bạn nói sẽ chỉ cho nó 10 đô la. Con bạn trả lời: “10 đô la không thể đủ được bố ạ”. Giờ bạn đã tạo ra một khoảng cách thương lượng: Con bạn đòi 20 đô la, bạn sẵn sàng cho 10 đô la, kết quả thường là bạn sẽ cho con 15 đô la. Trong văn hóa của chúng ta, chia đôi khoảng cách dường như vẫn là phương án công bằng nhất.

Tuy nhiên, việc chia nhỏ khoảng cách đến mục tiêu cũng có điều nguy hiểm. Bạn không được để cho đối phương phát hiện ra cách thức nhượng bộ của mình, mà cần thay đổi lời đề nghị theo từng bước và từng mức khác nhau để lý do thay đổi của mình không dễ nắm bắt được.

 2  – Không bao giờ đồng ý với lời đề nghị đầu tiên

Lý do: vì nó sẽ ngay lập tức đưa đến hai ý nghĩ trong đầu người khác: “Lẽ ra tôi có thể làm tốt hơn”, và “Chắc hẳn có điều gì đó không ổn”.

Từ chối lời đề nghị ban đầu có thể là việc khó khăn, đặc biệt khi bạn đã liên hệ nhiều tháng trời và khi đang định từ bỏ thì đối phương đồng ý. Việc này sẽ khiến bạn phải giữ ngay lấy những gì mình có thể đạt. Một khi đã như vậy, hãy làm một nhà thương lượng hiệu quả - nhớ đừng đồng ý quá nhanh.

 3 – Giật mình sửng sốt trước những lời đề nghị

 Nhà thương lượng hiệu quả hiểu rằng mình luôn phải tỏ ra giật mình – phản ứng sửng sốt và ngạc nhiên với đề nghị của đối phương.

 Việc tỏ ra sửng sốt rất quan trọng, vì hầu hết mọi người đều tin vào điều họ nhìn thấy hơn là nghe thấy.

 Con người có thể thuộc nhóm ưa thị thác, thính giác và cảm giác vận động. Cũng có người thuộc nhóm vị giác và khứu giác, nhưng không nhiều. Nhưng bạn có thể tin rằng, ít nhất 70% số người mà mình phải thương lượng là những người ưa thị giác – điều họ thấy còn quan trọng hơn điều họ nghe.

 Vì vậy, hãy tỏ ra sửng sốt trước một lời đề nghị của đối phương. Họ có thể không nghĩ là sẽ đạt được những gì đã đề nghị,nhưng nếu bạn không tỏ ra ngạc nhiên, họ sẽ hiểu rằng đó là một khả năng.

Tiếp sau việc tỏ ra sửng sốt sẽ là nhượng bộ. Nếu bạn không tỏ ra sửng sốt thì người kia sẽ bắt đầu cứng rắn hơn trong thương lượng.

Kể cả khi tiếp xúc qua điện thoại việc tỏ ra sững sờ và kinh ngạc trước đề nghị của đối phương cũng rất hiệu quả.

4  - Tránh thương lượng kiểu đối đầu

Những gì bạn nói trong vài giây đầu tiên của cuộc thương lượng thường tạo ra không khí cho cuộc thương lượng đó. Đối phương sẽ nhanh chóng cảm nhận được liệu bạn đang tìm kiếm một giải pháp cùng có lợi hay bạn là một người thương lượng cứng rắn, sẵn sàng làm tất cả để đạt được những gì có thể.

Vì vậy, hãy cẩn thận với những gì bạn nói khi bắt đầu. Nếu đối phương đưa ra quan điểm mà bạn hoàn toàn không tán thành thì cũng đừng tranh cãi. Tranh cãi luôn chỉ làm đối phương càng mong muốn chứng minh là mình đúng. Tốt nhất bạn nên đồng ý với họ trước rồi đáp trả lại với công thức 3F - Feel, Felt, Found (cảm giác, đã có cảm giác, nhận thấy).

Hãy trả lời kiểu như: "Tôi hiểu rõ những cảm giác của anh về điều này. Nhiều người cũng có cảm giác giống hệt như anh bây giờ khi họ mới nghe về giá cả. (Giờ thì bạn đã làm dịu đi không khí cạnh tranh). Nhưng khi tìm hiểu cặn kẽ lời chào hàng của chúng tôi, họ luôn nhận thấy rằng giá của chúng tôi là hợp lý nhất trên thị trường".

Một điều tuyệt vời khác về công thức 3F là nó cho bạn thời gian để suy nghĩ. Trong khi bình tĩnh nói "Tôi rất hiểu cảm giác của anh lúc này...", bạn có thể lấy lại sự điềm tĩnh để biết chính xác mình sẽ phải nói gì.

5  - Khách hàng miễn cưỡng và người bán hàng miễn cưỡng

Nhà thương lượng hiệu quả hiểu rằng kỹ thuật bán hàng miễn cưỡng sẽ mở rộng khoảng thương lượng trước khi cuộc thương lượng chính thức bắt đầu. Khi bạn làm được việc tạo cho đối phương mong muốn được sở hữu thứ bạn đang có, trong đầu họ sẽ hình thành một khoảng thương lượng. Khi đóng vai người bán hàng miễn cưỡng, bạn sẽ buộc đối phương phải nâng khoảng thương lượng đó lên.

Nếu ở vị trí người mua, bạn sẽ làm thế nào để người bán hàng đưa ra mức giá thấp nhất? Hãy để người bán hàng trình bày từ đầu đến cuối, hỏi tất cả những câu hỏi có thể và khi không nghĩ ra thứ gì để hỏi nữa, hãy nói, "Tôi thực sự trân trọng thời gian cô/anh đã dành cho tôi. Nhưng thật tiếc là nó lại không hợp với định hướng của chúng tôi. Dù sao cũng chúc cô gặp nhiều may mắn".

Sau khi chứng kiến người bán hàng thất vọng thu dọn giấy tờ, và khi họ chạm tay vào nắm cửa, hãy phản ứng đúng lúc: "Cô/anh biết đấy, tôi thực sự trân trọng thời gian cô/anh dành cho tôi. Để công bằng, hãy cho tôi biết giá thấp nhất mà cô/anh có thể cung cấp là bao nhiêu?".

Giá đầu tiên mà người bán hàng đưa ra gọi là "con số mong muốn". Còn giá đưa ra vào phút cuối trong trường hợp trên có thể gọi là mức giá "bỏ đi". Khi bạn đóng vai người mua hàng miễn cưỡng, người bán hàng sẽ không đi lòng vòng từ mức giá mong muốn đến mức giá bỏ đi, mà sẽ bỏ đi một nửa khoảng thương lượng của mình.

Khi ai đó làm điều này với bạn thì điều đó chỉ có nghĩa là họ đang tham gia vào một trò chơi mà thôi. Nhà thương lượng hiệu quả không bực mình vì chuyện này. Họ chỉ cố gắng học cách chơi trò thương lượng hiệu quả giỏi hơn đối thủ. Phản ứng đúng đắn trước chiêu này là tiến hành các nước cờ với thứ tự như sau:
"Tôi không nghĩ là có thể linh hoạt về giá cả, nhưng nếu ông bảo tôi phải làm gì để bên ông tiếp nhận (để bên kia cam kết trước), tôi sẽ hỏi ý kiến lãnh đạo bên tôi, và sẽ xem mình có thể làm gì cho ông được (đóng vai người tốt/kẻ xấu - một chiêu kết thúc thương lượng)".

6  - Dùng kỹ thuật câu kéo

Câu kéo là chiêu thương lượng khác rất hiệu quả, có thể đem tới một kết quả làm bạn bất ngờ. Nó chỉ là một câu nói đơn giản "Anh còn phải cố gắng nhiều thêm nữa".

Các nhà thương lượng hiệu quả thường áp dụng chiêu này như sau: Sau khi nghe nhà cung cấp trình bày và cố thuyết phục, họ sẽ nói "Tôi thực sự hài lòng vơi nhà cung cấp hiện tại của mình, nhưng có lẽ thêm một nhà cung cấp dự phòng để họ biết mà cẩn thận cũng không sao. Tôi sẽ lấy hàng của anh nếu anh cố gắng thêm chút nữa".

Sau khi đã nói "Anh phải cố gắng thêm nữa", hãy im lặng, đừng nói thêm một lời nào nữa. Doanh nhân thường gọi điều này là cái kết im lặng, và họ sẽ học áp dụng nó ngay trong tuần đầu tiên khi bắt đầu tham gia công việc kinh doanh. Bạn hãy đưa ra lời đề nghị, và im lặng. Đối phương có thể sẽ đồng ý, vì vậy sẽ thật dại dột khi nói một câu gì đó trước khi xác định họ có đồng ý hay không.

Ở phía ngược lại, khi tiếp nhận trò câu kéo, một nhà thương lượng có kinh nghiệm sẽ ngay lập tức phản ứng lại bằng cách nói: "Chính xác là anh muốn tôi phải cố gắng thêm bao nhiêu nữa?".

Hãy nhớ, một đồng thương lượng được là một đồng lãi ròng, không phải một đồng thu nhập trước thuế.

Trước copy trong nhóm X-factor nên share.

Kết quả hình ảnh cho chiến thắng chiến tranh biên giới

Kết quả cuộc chiến biên giới phía bắc
Sau 1 cuộc chiến, sẽ luôn luôn có những phân tích, đánh giá về kết quả của nó. Và câu hỏi thường trực nhất mà chúng ta thường quan tâm hoặc nhận được luôn là: ai THẮNG - ai BẠI.
Thế nhưng nếu quy về bản chất, cặp khái niệm “THÀNH / BẠI” này khá cảm tính và mang nặng tính thống kê. Ví dụ như: số lượng thương vong là bao nhiêu, thiệt hại mỗi bên phải gánh chịu, vấn đề biên giới, đất đai / lãnh thổ sau cuộc chiến có thay đổi không?... Thế nhưng, trớ trêu thay là những câu hỏi này thường không có câu trả lời chính xác để rồi sau đó đồng quy về 1 khái niệm đơn giản: bên nào ít thiệt hại hơn là bên chiến thắng.
Nhưng sự thật chưa bao giờ là đơn giản như vậy. Đã từng có nhiều, rất nhiều ví dụ để đi đến kết luận rằng: có những cuộc chiến mà kẻ THUA lại được nhiều hơn mất, còn người THẮNG lại mất nhiều đến mức hoá ra thua. Chính vì vậy, thước đo được dùng bởi phương pháp thống kê ấy đã trở nên cổ điển, không còn mang nhiều giá trị với giới nghiên cứu sau này và được thay thế bằng những khái niệm mới, mà ở đó, giá trị của 1 cuộc chiến được định đoạt bởi những mục đích chính trị. Như học thuyết mà Mao Trạch Đông từng đưa ra:
"Chiến tranh về cơ bản là một vụ kinh doanh chính trị, miễn sao ta đạt được mục tiêu chiến lược đề ra, còn các vấn đề gây ra từ thất bại của chiến thuật chỉ là thứ yếu."
Vậy trong cuộc chiến biên giới năm 1979:
TRUNG QUỐC ĐÃ THẮNG HAY THUA?
Một câu hỏi khá thú vị, nhưng câu trả lời lại rất đơn giản: Trung Quốc đã THẮNG trong cuộc chiến này. Hay nói đúng hơn, cuộc chiến này chỉ có 1 kẻ thắng duy nhất, đó là ĐẶNG TIỂU BÌNH.
Vì sao?
//
1. Cuộc chiến này đã củng cố được quyền lực tối cao của Đặng trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, cũng như xác lập vị thế tuyệt đối của Đảng.
Sau những thăng trầm, Đặng Tiểu Bình nổi lên trở lại trên đấu trường chính trị vào tháng 7 / 1977 với vai trò Phó chủ tịch Đảng Cộng Sản (ĐCS), Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng và Tổng tham mưu trưởng Giải phóng quân Trung Quốc (PLA). Tuy nhiên, ở thời điểm ban đầu, quyền lực của Đặng được khôi phục không đồng nghĩa với việc nắm uy thế áp đảo trong Đảng. Bởi khi ấy Hoa Quốc Phong (chủ tịch Đảng, chủ tịch Quân ủy Trung ương), được sự hậu thuẫn của Uông Đông Hưng (phó chủ tịch Đảng), vẫn còn nắm quyền kiểm soát Đảng Cộng Sản TQ và tiếp tục thi hành các ý tưởng của cố chủ tịch Mao Trạch Đông. Bên cạnh đó, nguyên soái Diệp Kiếm Anh vẫn còn phụ trách Quân ủy Trung ương.
Giữa năm 1977 đến cuối năm 1978, cuộc tranh giành quyền lực giữa Hoa Quốc Phong và Đặng Tiểu Bình ngày càng căng thẳng. Với vị trí Tổng tham mưu trưởng Giải phóng Quân Trung Quốc, Đặng nắm rõ kế hoạch chiến tranh, nhưng dường như không chắc chắn rằng liệu ý định tấn công Việt Nam có nhận được sự ủng hộ tuyệt đối của Bộ Chính trị hay không. Hơn nữa, Đặng cần xem xét các mục tiêu chính trị mà Giải phóng Quân Trung Quốc có khả năng đạt được thông qua hành động quân sự ngoài việc đơn giản là trừng phạt Việt Nam.
Cán cân chính trị chính thức nghiêng về phía Đặng khi Hội nghị công tác trung ương Đảng toàn quốc diễn ra năm 1978. Tại hội nghị này, vị trí lãnh đạo tuyệt đối của Đặng đã được khẳng định chắc chắn, cho phép ông ta trở thành người ra quyết định cuối cùng về vấn đề Việt Nam.
Trong 1 cuộc họp Quân ủy Trung ương khác cuối năm 1978, Đặng Tiểu Bình đã chính thức đề xuất một cuộc chiến tranh trừng phạt Việt Nam đồng thời có những thay đổi quan trọng trong công tác nhân sự. Theo đó, Đặng bổ nhiệm 2 tướng lĩnh thân cận làm chỉ huy toàn bộ chiến dịch:
+ Mặt trận phía Đông Quảng Tây do tướng Hứa Thế Hữu phụ trách.
+ Ở hướng Tây Vân Nam (thuộc quân khu Côn Minh), Đặng điều động tướng Dương Đắc Chí (tư lệnh quân khu Vũ Hán) làm chỉ huy mà không dùng tướng Vương Tất Thành (vốn là tư lệnh quân khu Côn Minh).
Sự thay đổi này diễn ra chóng vánh và được giữ bí mật đến mức hai phó tổng tham mưu trưởng của Đặng đã đến Côn Minh để giám sát việc chuyển giao quyền lực và chuẩn bị chiến tranh. Không có một bộ tư lệnh trung tâm, 2 quân khu sẽ tiến hành tác chiến độc lập, không có phối hợp hoặc hiệp đồng. Cuộc họp cũng nhắc lại rằng cuộc tấn công phải được tiến hành chớp nhoáng và tất cả các đơn vị phải rút về sau khi đạt được mục tiêu của chiến dịch.
Chính vì thế, các học giả sau này đưa ra giả thiết là đã có một vài lãnh tụ Trung Quốc phản đối việc tấn công Việt Nam, nhưng họ không thống nhất được đó là ai và sự phản đối theo hình thức nào. Khi Đặng đã là kiến trúc sư trưởng của kịch bản thì khó có ai dám thách thức được quyết định của ông ta, một người đầy uy tín cũng như thâm niên trong Đảng. Kiểm soát được Bộ Tổng Tham Mưu, Đặng đã có được các phương tiện thuận lợi nhất để thúc cỗ máy chiến tranh vận hành trước khi ban lãnh đạo Trung ương đưa ra quyết định cuối cùng.
//
2. Cuộc chiến này đã đẩy TQ đến gần với Mỹ hơn bao giờ hết trong lịch sử. Tạo điều kiện cho TQ hoàn toàn đổi mới kinh tế, sớm hơn cả Liên Xô và tránh việc bị sụp đổ như Liên Xô sau này.
Ngay từ những năm 70, Mao Trạch Đông đã theo đuổi chiến lược “một đường ngang” (nhất hoành tuyến) trên toàn cầu, tức là một đường phòng thủ chiến lược chống lại Liên Xô kéo dài từ Nhật Bản sang châu Âu đến Mỹ. Cơ sở chiến lược “hoành tuyến” của Mao là dựa vào sự hợp tác chặt chẽ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Washington đã đáp lại dự án này của Bắc Kinh một cách hờ hững. Nỗi thất vọng của TQ tiếp tục kéo dài trong suốt những năm đầu của nhiệm kỳ tổng thống Jimmy Carter khi ông chính thức tuyên bố sẽ dành ưu tiên cao hơn cho hoà dịu Xô - Mỹ. Đặng không thích chính sách cố gắng xoa dịu căng thẳng quốc tế thông qua đàm phán của Hoa Kỳ và không tin rằng các thỏa thuận hoặc hợp tác với Liên Xô có thể ngăn chặn nước này bành trướng. Đáp lại từ phía Hoa Kỳ, Zbigniew Brzezinski (cố vấn an ninh quốc gia của chính quyền Carter) trong chuyến viếng thăm Bắc Kinh tháng 5 / 1978 đã cho rằng các chính sách của Trung Quốc chỉ đơn giản là “nói suông” mà thôi. Chính vì thế, hành động quân sự lần này của Đặng được cho là minh chứng để khẳng định với Hoa Kỳ rằng Trung Quốc không nói suông trong việc muốn tạo lập một liên minh để chống lại “thái độ hung hăng” của Liên Xô.
Cùng với đó là hai sự kiện: Việt Nam can thiệp vào Campuchia + liên minh Xô - Việt được thành lập đã khiến Đặng tin rằng quan hệ hợp tác chiến lược Xô - Việt là mối đe doạ đến Trung Quốc. Vì thế, Đặng không chỉ hy vọng rằng việc bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ sẽ cải thiện vị trí chiến lược của Trung Quốc mà sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn trong cải cách kinh tế với sự hỗ trợ của Mỹ. Bên cạnh đó, Đặng còn mong chờ cuộc tấn công của Trung Quốc vào đồng minh của Liên Xô sẽ là bằng chứng thuyết phục chính phủ Mỹ rằng Hoa Kỳ và Trung Quốc cùng có lợi ích chung.
Sau cuộc chiến, có thể kết luận ý định “làm thân” của Bắc Kinh đã phần nào đươc Washington đáp lại khi Mỹ vừa công khai (một kiểu hình thức) lên án cả cuộc xâm lược của Việt Nam vào Campuchia + cuộc xâm lược của Trung Quốc vào Việt Nam lại vừa chia sẻ mối quan tâm của Trung Quốc trong việc ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô tại Đông Nam Á. Ý chí sẵn sàng sử dụng vũ lực của Bắc Kinh, bất chấp gánh chịu thương vong, đã biến Trung Quốc thành “một bức tường có giá trị” trong việc ngăn chặn chủ nghĩa bành trướng Xô-Việt. Washington vào thời điểm đó đã tiếp tục tìm kiếm một mối quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc để cân bằng cán cân với Liên Xô.
Về kinh tế: một trong những quyết định quan trọng đầu tiên của Đặng (được công bố tại Hội nghị TW Ba), là chuyển ưu tiên quốc gia sang hiện đại hoá kinh tế và mở cửa ra thế giới bên ngoài. Theo chương trình này, Hoa Kỳ được xem là cái đích để học tập các ý tưởng và công nghệ tiên tiến, đồng thời là tấm gương thích hợp nhất về hiện đại hoá. Đặng tin rằng nếu TQ chỉ mở cửa với các nước khác nhưng nói không với Hoa Kỳ thì chính sách mới sẽ không có hiệu quả. Đến tháng 12 / 1978, Bắc Kinh đã mời một số tập đoàn lớn của Hoa Kỳ giúp đỡ phát triển tài nguyên thiên nhiên, dầu khí, và các nghành công nghiệp nặng khác ở Trung Quốc.
Có thể nói nhân tố Mỹ đóng một vai trò quan trọng trong tư duy chiến lược của Trung Quốc trong gian đoạn trước khi tiến hành cuộc chiến với Việt Nam.
//
3. Cuộc chiến 1979 đã tàn phá biên giới và đẩy lùi quá trình đổi mới ở Việt Nam gần chục năm.
Theo quan điểm của TQ, cuộc chiến 1979 với Việt Nam là một biện pháp quân sự có tính toán nhằm trả đũa chính sách thù nghịch với Trung Quốc và sự bành trướng của Việt Nam tại Đông Nam Á cũng như tham vọng toàn cầu của Liên Xô. Mặc dù chiến dịch này bộc lộ nhiều điểm yếu trong học thuyết quân sự và chiến thuật, nhưng Trung Quốc đã nhanh chóng nắm giữ thế chủ động và nhịp độ của cuộc xung đột. Bắc Kinh đã gây bất ngờ cho Hà Nội không chỉ vì quy mô của chiến dịch, mà còn ở việc rút lui nhanh chóng và không bị sa lầy ở Việt Nam.
Ngược lại, phía Việt Nam dường như không hiểu hết các động thái chiến lược và mục tiêu chiến tranh của TQ, khi khăng khăng giữ quan điểm cho rằng cuộc xung đột năm 1979 sẽ mở màn cho một kế hoạch xâm lược dài hạn của Bắc Kinh vào chủ quyền và nền độc lập của Việt Nam. Sau khi Trung Quốc tuyên bố rút quân, Hà Nội vẫn kêu gọi tổng động viên toàn quốc cho chiến tranh, thúc đẩy việc xây dựng các vị trí phòng thủ trong và xung quanh Hà Nội. Đến cuối tháng 5, mặc dù quân đội TQ đã trở lại trạng thái bình thường, nhưng Việt Nam vẫn tiếp tục đề phòng, duy trì số lượng lớn quân đội dọc theo biên giới phía Bắc vào thời điểm mà nền kinh tế của Việt Nam đang “ở trong một tình trạng tồi tệ hơn lúc nào hết kể từ sau năm 1975”.
Như một kết quả tất yếu, Hà Nội phải dồn hết nỗ lực cho hai cuộc chiến tranh cùng một lúc, một ở Campuchia và một ở biên giới phía Bắc, dẫn đến tình trạng mọi nguồn lực đều dồn cho việc phòng ngự chiến tranh, thay vì tập trung cho hiện đại hóa nền kinh tế. Và quan trọng hơn, điều này làm giảm tham vọng về địa chính trị của họ.
//
4. Vấn đề Campuchia
Điều quan trọng nhất trong chiến lược Campuchia của TQ đã được cuộc chiến 1979 giải quyết gọn gàng. Một mặt, nó đã bảo vệ được lực lượng Khmer Đỏ khỏi bị diệt vong và mặt khác, nó khiến Việt Nam buộc phải rút dần quân và ảnh hưởng khỏi Cambodia.
Mặc dù ý tưởng về 1 cuộc triệt thoái quân đội Việt Nam ngay lập tức khỏi lãnh thổ Campuchia của giới lãnh đạo TQ không được thực hiện, nhưng bù lại, ý định quét sạch Polpot khỏi Campuchia của Việt Nam cũng không bao giờ có thể trở thành hiện thực khi phải căng mình trên cả 2 chiến tuyến. Điều này đã làm suy yếu đáng kể sức mạnh quân sự Việt Nam trong việc bình định tàn dư của chế độ Ieng Sari và dẫn đến 1 hệ quả thứ 2 cũng tai hại không kém, đó là: cuộc chiến này đã đẩy tinh thần bài Việt ở Campuchia lên mức độ cao nhất, đồng thời ngăn chặn ảnh hưởng của Việt Nam và Liên Xô ở phần còn lại của Bán đảo Đông Dương.
Chính vì không giải quyết được tận gốc vấn đề Polpot mà Việt Nam lâm vào thế “bỏ thì thương, vương thì tội”. Nó khiến Hà Nội ngay lập tức không thể triệt thoái toàn bộ quân đội về nước (mà phải đồn trú trên đất Cam mãi gần 10 năm) khi chế độ Polpot vẫn còn manh nha bùng phát trở lại. Từ đó dẫn đến những mâu thuẫn vế ý thức hệ giữa người dân sở tại và chính quyền chiếm đóng ngày càng tăng cao. Đặc biệt là với mối quan hệ không được êm ấm Việt - Cam từ trăm năm nay lại càng sâu sắc và mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Mâu thuẫn càng tăng cao, Polpot càng có cơ hội xây dựng lực lượng, tuyển mộ binh lính từ những người có tinh thần kháng Việt. Sihanouk vì thế mà có cơ hội trở lại. Hun Sen thì hai lòng dù không thể hiện.
Bên cạnh đó, Việt Nam còn phải chịu sư xa lánh của toàn khối Asean khi trong mắt họ, Hà Nội trở thành 1 Tiểu bá vương tại khu vực. Lào quan sát những sự kiện ấy với thái độ e dè, nơm nớp lo sợ chuyện Liên bang Đông Dương trở thành hiện thực. Thái, Mã Lai nhìn sự chiếm đóng của Việt Nam ở Campuchia như một sự đe dọa đến biên giới mình, khiến làn sóng chống đối Việt Nam của các nước ASEAN tiếp tục gia tăng, và theo lẽ cân bằng chiến lược, họ phải ngả sâu thêm về phía Mỹ và Trung.
Có thể nói, cuộc chiến Việt - Trung 1979 là khởi đầu cho một chính sách làm “chảy máu” Việt Nam trong nỗ lực ngăn chặn sự bành trướng của Hà Nội ra Đông Nam Á. Sau cuộc chiến này, Trung Quốc vẫn thi hành chiến lược duy trì áp lực quân sự lên Việt Nam kể cả sự đe dọa liên tục bằng lời nói về một cuộc tấn công thứ hai, và đôi khi tăng cường pháo binh bắn phá kết hợp với những trận đánh lớn ở biên giới trong gần hết thập kỷ 1980.
//
5. Cú hích lớn cho việc thay đổi toàn diện tư duy & nghệ thuật chiến tranh cho lực lượng quân giải phóng Trung Quốc (PLA)
Bất kể thành công của Trung Quốc như thế nào, những vấn đề vẫn được mổ xẻ tận gốc, từ hiệu năng chiến đấu, bài học rút ra… cho đến tư duy của giới tướng lĩnh PLA khi càng nhìn lại cuộc chiến, họ càng thấy những mâu thuẫn nội tại. Trong khi tuyên bố đã gchiến thắng, họ cũng thừa nhận cái giá quá cao mà Giả phóng quân Trung Quốc đã phải trả.
Vì thế, kể từ sau cuộc chiến 1979 với Việt Nam, PLA đã tiến hành sửa đổi sâu rộng trong học thuyết quốc phòng, trong chỉ huy và điều khiển, chiến thuật tác chiến, cơ cấu lại lực lượng... Ngày nay, không ai nghĩ rằng các lực lượng vũ trang của Trung Quốc sẽ lặp lại những gì họ đã làm trong chiến tranh biên giới với Việt Nam. Từ góc độ lịch sử, những nét đặc thù của người Trung Quốc đã bộc lộ trong cuộc chiến 1979 có thể vẫn còn có giá trị trong các giáo trình của học viện quân sự cũng như đối với những người quan tâm đến phương pháp sử dụng sức mạnh quân sự của người Trung Quốc, không chỉ trong quá khứ mà cả với hiện tại và trong tương lai.
//
© Bài viết sử dụng những thông tin của nhà nghiên cứu Trương Tiểu Minh (Zhang Xiaoming). Ông hiện là giáo sư giảng dạy tại trường Cao Đẳng Không Chiến (Air War College) tại Montgomery, tiểu bang Alabama (Hoa Kỳ) - khoa Chỉ huy & Chiến lược, chuyên ngành Trung Quốc & Khu vực Đông Á.
Các tác phẩm của Trương Tiểu Minh được sử dụng trong bài:
[1] China’s 1979 War with Vietnam: A Reassessment
[2] Deng Xiaoping and China’s Decision to go to War with Vietnam
[3] Deng Xiaoping’s Long war
© Ảnh minh hoạ (Getty Image): Đặng Tiểu Bình tay bắt mặt mừng với Polpot trong chuyến thăm chính thức của thủ lĩnh Khmer Đỏ tại Bắc Kinh vào nửa đầu năm 1978 - năm mà Đặng đã hoạch định sẵn kế hoạch về 1 cuộc chiến với Việt Nam.



Trước copy trong nhóm X-factor nên share.

Có hay không cái gọi là "Hội nghị Thành Đô" và những nội dung trong đó?

Đây cũng là câu hỏi mà dạo trước, thỉnh thoảng có bạn hỏi chúng tôi và chúng tôi hẹn 1 dịp khác. Đối với chúng tôi, hoặc thế hệ 8X trở về trước, "hội nghị Thành Đô" không hề là 1 điều gì mới mẻ. Ngay chính bạn cũng có thể google 4 chữ "hội nghị Thành Đô" 1990 sẽ cho rất nhiều kết quả.

Kết quả hình ảnh cho hiệp định thành đô chiến tranh biên giới


"CÓ HAY KHÔNG "HỘI NGHỊ THÀNH ĐÔ"

Tôi có thể trả lời chắc chắn cho bạn 1 điều: CÓ. 

Đó là cuộc hội nghị thượng đỉnh Việt - Trung trong hai ngày 3-4 tháng 9, 1990, tại Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) giữa lãnh đạo cao cấp nhất của hai Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam - Trung Quốc. Cuộc họp mặt này nhằm mục đích bình thường hóa quan hệ giữa hai nước và hai Đảng sau hơn 10 năm căng thẳng về mọi mặt. 

Nhưng muốn hiểu, muốn biết về hội nghị này, không chỉ trong nội dung 1-2 bài là đủ. Bởi muốn hiểu rõ, chúng ta phải đi sâu từ tình hình thực tế giai đoạn đó (của VN & của cả thế giới), nguyên nhân, diễn biến, kết quả và sau cùng mới là nhận định của các học giả quốc tế. Thế nên, chúng tôi cũng chưa đủ tầm phán xét cha ông mà trong nội dung ngắn của bài này, tôi chỉ xin tổng hợp lại 1 số nội dung cơ bản:

DIỄN BIẾN

Mùa hè năm 1990, đã có những biến chuyển mới bắt nguồn từ các sự kiện trước đó và trở thành tiền đề cho sự thay đổi các động thái ngoại giao quốc tế. Thời điểm này, chúng ta vẫn đang phân vân giữa 2 dòng nước khi chưa quyết định được sẽ chọn phương án nào cho vấn đề Campuchia:

+ Phương án 1: cố gắng đạt được thỏa thuận với Trung Quốc dựa trên ý thức hệ chung (tức một “giải pháp đỏ” cho vấn đề Campuchia) - nói cách khác, đây là quá trình đàm phán song phương.

+ Phương án 2: tham gia vào quá trình tìm kiếm những giải pháp ngoại giao với kết quả khó dự đoán hơn thông qua Liên Hợp Quốc, tức là sẽ bao gồm cả Hoa Kỳ và ASEAN - tức đàm phán đa phương.

Tuy nhiên, không lâu sau đó, Trung Quốc bất ngờ gửi lời mời khẩn tới Thủ tướng Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng, đề nghị một cuộc họp khẩn tại Thành Đô để tham gia vào một nỗ lực giải quyết vấn đề Campuchia cũng như đạt được bước đột phá trong việc bình thường hóa quan hệ Trung – Việt. Điều này rất bất ngờ bởi từ trước cho đến thời điểm đó, Trung Quốc vẫn kiên quyết khẳng định vấn đề Campuchia phải được giải quyết theo ý Trung Quốc trước khi có thể đàm phán bình thường hóa quan hệ. Nhưng những phân tích của cựu Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ khi đó cho thấy Trung Quốc giờ đã phải thay đổi lập trường do ưu tiên hàng đầu của họ là phát triển kinh tế đã bị cản trở bởi các biện pháp trừng phạt quốc tế sau vụ Thiên An Môn.

KẾT QUẢ (*)

Sau khi từ Thành Đô trở về, theo tiết lộ của cựu Đại sứ Trung Quốc tại VN Trương Đức Duy cho biết: 

Cuộc gặp lãnh đạo hai nước chủ yếu thảo luận cách giải quyết chính trị vấn đề Campuchia và khôi phục quan hệ bình thường Trung Quốc – Việt Nam. Về vấn đề Campuchia, hai bên chú trọng bàn về thành viên Ủy ban Tối cao cơ quan quyền lực lâm thời Campuchia, tức phương án phân phối quyền lực sau khi Việt Nam rút quân. 

+ Phía Trung Quốc đề xuất Ủy ban này gồm 13 thành viên, ngoài Sihanouk làm Chủ tịch ra, chính quyền Phnompenh cử 6 đại biểu, phía lực lượng chống đối gồm ba phái Campuchia Dân chủ (tức Khmer Đỏ), Ranaridh và Son Sann mỗi phái 2 đại biểu, tổng cộng 6 đại biểu. 

+ Phía Việt Nam: TBT Nguyễn Văn Linh tỏ ý có thể tiếp thu phương án này của phía Trung Quốc; Thủ tướng Đỗ Mười lại cho rằng bản thân Sihanouk cũng thuộc lực lượng chống đối, như vậy tỷ lệ hai bên là 6 so với 7, phía lực lượng chống đối nhiều hơn 1 ghế, dự đoán phía chính quyền Phnom Penh sẽ khó tiếp thu phương án này; Cố vấn Phạm Văn Đồng thì nói phương án của phía Trung Quốc đã không công bằng lại cũng không hợp lý. 

Kết quả cuối cùng phía Việt Nam đồng ý dựa vào phương án của phía Trung Quốc để làm công tác thuyết phục phía Phnom Penh.

Về mối quan hệ Trung Quốc – Việt Nam, hai bên đều có thái độ nhìn về phía trước, không rà lại các món nợ cũ. Lãnh đạo hai nước đều đồng ý dựa theo tinh thần “Kết thúc quá khứ, mở ra tương lai” viết một chương mới trong mối quan hệ Trung – Việt. Khi kết thúc cuộc gặp, lãnh đạo hai nước đã ký kết “Biên bản Hội đàm”. 

Tổng Bí thư Giang Trạch Dân còn ý vị sâu xa trích dẫn hai câu thơ của Giang Vĩnh, nhà thơ đời Thanh: 

Độ tận kiếp ba huynh đệ tại, 
Tương kiến nhất tiếu mẫn ân cừu 

[tạm dịch]

Qua kiếp nạn, anh em còn đó. 
Gặp nhau cười, hết sạch ơn thù. 

Tối hôm ấy, TBT Nguyễn Văn Linh xúc động viết bốn câu thơ: 

Huynh đệ chi giao số đại truyền, 
Oán hận khoảnh khắc hóa vân yên, 
Tái tương phùng thời tiếu nhan khai
Thiên tải tình nghị hựu trùng kiến

ĐÁNH GIÁ (**)

Không thể phủ nhận, ở hội nghị Thành Đô 1990, ta đã có những nhượng bộ nhất định cho Trung Quốc. Nhưng động lực cho sự nhượng bộ ở Thành Đô nhằm bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vừa là chính sách thực dụng (bù đắp cho sự thiếu hụt hỗ trợ từ Liên Xô và thừa nhận thực tế là vị thế chiến lược của Trung Quốc đã được cải thiện) vừa mang tính ý thức hệ (duy trì và tăng cường số lượng giảm sút của các nước cộng sản nòng cốt).

Một tờ báo Anh dẫn nguồn tình báo phương Tây cho rằng Trung Quốc đã đề nghị cung cấp cho Việt Nam các loại hàng hóa cơ bản mà nay Liên Xô không còn có thể cung cấp, và trả lại một phần đáng kể quần đảo Trường Sa (khu vực có trữ lượng dầu lửa tiềm năng). “Để đổi lại, Trung Quốc đề nghị Hà Nội ‘điều phối’ – nói cách khác là điều chỉnh theo hướng lệ thuộc – chính sách đối ngoại của Việt Nam theo chính sách của Bắc Kinh". 

Tuy kết quả cuối cùng, chúng ta đã từ chối đề nghị này nhưng điều làm ngạc nhiên các học giả phương tây chính là “Hà Nội đã tiến rất gần [đến việc chấp nhận] nó”… - theo 1 nguồn tin tình báo từ Bangkok. Vậy là củ cà rốt giơ ra trước mặt Hà Nội là rất lớn, và họ đã phải suy đi nghĩ lại trước khi khước từ toàn bộ. Nó cho thấy Việt Nam đã tuyệt vọng đến mức nào. "Trên thực tế, vị thế chiến lược xấu đi của Việt Nam đã nhanh chóng buộc nước này phải miễn cưỡng chấp nhận vai trò cửa dưới mà Trung Quốc đề nghị – ngay cả khi không còn những củ cà rốt". 

Bài phát biểu tháng 9 năm 1990 của TBT Đỗ Mười, một bản chi tiết hơn của bài phát biểu tháng 12 năm 1989, cũng cho thấy Việt Nam đã cố gắng suy tính những tác động của quan hệ quốc tế trong kỷ nguyên mới, trong đó cả chính sách (địa chính trị) thực dụng và các yếu tố ý thức hệ đều không mang tính quyết định trong việc giải quyết vấn đề cấp bách nhất của Việt Nam, đó là sự lạc hậu về kinh tế. Ở thời điểm đó, giải thoát khỏi gánh nặng Campuchia và tìm cách thỏa hiệp với Trung Quốc để Việt Nam có thể tập trung phát triển kinh tế là điều cần thiết nhất.

Thế nhưng, với Thứ trưởng Trần Quang Cơ, ông gọi đó là một thất bại ngoại giao đối với Việt Nam khi cho rằng lý do chính là Việt Nam đã tự huyễn hoặc mình bằng cách bám vào niềm tin rằng Trung Quốc có quan tâm đến một liên minh ý thức hệ để chống lại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các nước phương Tây nhằm lật đổ các nước cộng sản còn lại. Sự sụp đổ của những nỗ lực thất bại nhằm đạt được một “giải pháp đỏ” là bước quan trọng cuối cùng dẫn tới vai trò ngày một phai nhạt của bóng ma “diễn biến hòa bình” vốn được các phần tử bảo thủ của Việt Nam lấy làm cái cớ để phản đối các lực lượng theo xu hướng hội nhập của một hệ thống hậu Chiến tranh Lạnh đang toàn cầu hóa.

Như xát muối vào vết thương, Trung Quốc hân hoan tiết lộ nội dung hội nghị cho Hun Sen và một loạt các bên khác rằng các nhà lãnh đạo Việt Nam đồng ý chấp nhận cho các thế lực chống Hun Sen chiếm ưu thế trong chính phủ liên minh – trên thực tế là bán đứng phe được Việt Nam bảo trợ vốn đang là thế lực thống trị ở Campuchia trong thời gian đó. Một trong những mục tiêu của việc tiết lộ cuộc đàm phán được cho là bí mật này là nhằm xây dựng một hình ảnh Việt Nam tráo trở và không đáng tin cậy với đồng minh, đồng thời gây chia rẽ trong giới lãnh đạo Việt Nam. Trong vấn đề này Trung Quốc đã thành công: trong một cuộc họp Bộ Chính trị giữa tháng 5 năm 1991, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng bày tỏ sự ân hận vì bị đẩy vào thế ủng hộ một chính sách không khôn ngoan. Thủ tướng Đỗ Mười cũng lấy làm tiếc về kết quả, với lý do nó sẽ khiến Việt Nam trở thành người bạn không đáng tin cậy trong con mắt các đối tác. Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch cũng nói với TBT Nguyễn Văn Linh rằng ông đã mắc một sai lầm nghiêm trọng.

//

Đây chính là những nộ dung chính thống mà ta được tiếp cận. Những ai vẫn còn lăn tăn, các bạn nên suy nghĩ lại về vị thế VN ở thời điểm đó:

1. Đây là giai đoạn kinh tế VN đang kiệt quệ. Điều này là thực tế không thể chối cãi. Nguyên nhân thì nhiều và do chính chúng ta là chính - những sai lầm mang tính hệ thống từ nhiều lĩnh vực: đối nội, đối ngoại, kinh tế, quân sự... Vậy cần làm gì để vực dậy đất nước?

2. Nội lực ư? Lúc đó chúng ta có gì? Không một tấc sắt trong tay! Cả dân tộc đói vều cả mỏ. Đó là giai đoạn cha mẹ, ông bà chúng ta ăn cơm trộn bo bo, lúa mì... thay cho gạo / cơm đấy các bạn ạ.

3. Muốn vay mượn, nhờ vả thì dựa vào ai? Liên Xô - người bảo trợ tốt và lâu năm nhất cũng đang trên bờ vực của sụp đổ. Họ lo thân còn chưa xong, giúp đỡ ai?

4. Asean? Quên đi nhé khi gần như khối này đang nhìn VN với con mắt của 1 kẻ bá quyền khi xâm lược Campuchia. Liệu có ai dám đứng ra bảo lãnh và giúp đỡ 1 người đang bị cộng đồng xa lánh?

5. Hoa Kỳ & phương Tây? 

+ Thứ 1: chúng ta đã bỏ qua thời cơ bình thường hoá quan hệ với họ trong cuối thập kỷ 70.

+ Thứ 2: chấp nhận bình thường hoá quan hệ với Mỹ, tức là tự tay ta xoá bỏ hệ thống tư tưởng mà mình đã dày công mới có được. Nếu là các vị, các vị có làm không? Ở đây tôi không nói đến lợi ích cá nhân, mà nó là 1 hệ thống tư tưởng đã ăn sâu vào đầu óc các vị lãnh đạo hồi đó. Giống như việc 1 ngày tôi bảo bạn phải xoá bỏ hết những đức tin, lý tưởng của bạn... bạn có làm được không?

6. Và cuối cùng... TQ chính là cái phao "dù tệ nhất" cho VN ở thời điểm đó. nhưng còn cách nào khác?

//

Để phản biện, tôi đã dành khá nhiều thời gian để tìm hiểu về hội nghị này từ trước, nhưng ngoài những thông tin từ phía “lề trái” ra, tôi chưa từng được tiếp cận những thông tin có độ tin cậy cao hơn. Ngay cả về phía những học giả quốc tế, cũng chưa từng có ai đề cập đến văn bản “bán nước” này như những gì chúng ta đang được thấy.

Tuy nhiên, tôi cũng không bác bỏ những thông tin đó từ phía lề trái bởi lịch sử là thứ không thể chỉ thấy trong ngày 1 ngày 2. Nhưng để có thể tin được, tôi cần nhiều - nhiều hơn nữa những bằng chứng cụ thể chứ không phải vài cái hình hay con chữ trên mạng kia.

THẾ NHƯNG - hãy tạm gác cái văn kiện của hội nghị này sang 1 bên. Các bạn có thể đọc - thậm chí là đọc từ rất nhiều phía, nhưng đó không phải là điều quan trọng nhất. Bởi không 1 thế lực, không 1 tổ chức, không 1 quốc gia nào có thể bắt dân tộc này làm nô lệ ngoại trừ 1 thứ duy nhất: CHÍNH CHÚNG TA.

Ở bài viết sau, tôi sẽ nói nhiều hơn về vấn đề này! Một vấn đề mà theo tôi là quan trọng hơn nhiều cái chuyện về “hội nghị Thành Đô” kia.

Trước copy dc trong nhóm X-factor.thấy hay nên share
Kết quả hình ảnh cho chiến tranh biên giới


37 NĂM CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI.

VÌ SAO? 

Đấy là một cuộc chiến kỳ lạ, đã đến và đi chỉ trong một tháng, nhưng 37 năm qua luôn là một điều bí ẩn trong mối quan hệ của hai quốc gia này. Cuộc chiến tranh biên giới ấy, thật sự là sao?

Ngày 17/2/1979, tròn cách đây 37 năm, Trung Quốc đưa 60 vạn quân xua xuống biên giới tấn công Việt Nam. Khởi đầu cho cuộc chiến kéo dài 30 ngày nhưng khiến hàng vạn người chết và đẩy mối quan hệ giữa hai quốc gia đóng băng trong hơn một thập niên.

***

Trong chúng ta, những người dân Việt Nam hẳn không lạ gì anh hàng xóm bự con này. Việt Nam từ khi khởi nguồn đã dựng nước và giữ nước. Và giữ nước thì đấy là chống lại sự bành trướng đến từ phương Bắc.

Nhưng trong thế kỷ XX hiện đại, Việt Nam và Trung Quốc lại chung chiến tuyến. Đó là cùng chống lại sự xâm chiếm thuộc địa của phương Tây. Và sau này lại thêm một lần nữa Hà Nội đứng cạnh Bắc Kinh trong cuộc chiến kéo dài với Mỹ đến ngày 30/4/1975.

Có thể nói rằng, cho đến tận trước năm 1978 (thời điểm đóng băng quan hệ), Việt Nam và Trung Quốc vẫn là đồng minh thân cận. Và trong chiến tranh với Pháp và Mỹ, chính Bắc Kinh là nơi viện trợ trực tiếp nhất cho Việt Nam từ thuốc men, y tế cho đến quân sự. Đương nhiên Mỹ, Liên Xô hay Trung Quốc cũng chẳng tốt đẹp gì. Họ là nguyên nhân của việc chia rẽ dân tộc này, đẩy chúng ta vào thế chĩa súng và căm thù vào nhau. Nhưng xét trên bình diện của một mối quan hệ, Hà Nội nợ Bắc Kinh trong chiến tranh.Và Bắc Kinh cũng coi Hà Nội là đồng minh.

Vấn đề không ở VN và TQ mà là ở Liên Xô. Đấy là mâu thuẫn về ý thức hệ giữa hai quốc gia đàn anh của Việt Nam. Và điều này là cái sâu xa nhất đẩy VN – TQ vào chiến tranh biên giới.

Chúng ta có thể so sánh thế này cho dễ hiểu. Nếu gọi Cộng Sản là một môn phái, thì trong môn phái đó có đại sư huynh tên là Liên Xô, nhị sư huynh tên là Trung Quốc và đệ tử nhỏ tuổi nhất tên là Việt Nam. Chiếc ghế chưởng môn nhân Cộng Sản còn để trống và được mặc định cho đại sư huynh Liên Xô. Nhưng nhị sư huynh không chịu và cho rằng mình xứng đáng hơn. Mâu thuẫn giữa đại sư huynh và nhị sư huynh đi đến hồi gay gắt theo thế “mày chết thì tao sống”. Và nhị sư huynh hất hàm hỏi đứa em của mình là Việt Nam “Ê cu, võ công mày có đến giờ là do anh dạy dỗ, mày theo phe anh hay theo phe đại sư huynh”.

Tổng bí thư Việt Nam khi ấy là Lê Duẩn – một người dân tộc nổi tiếng đương nhiên biết thừa thằng nhị sư huynh này cũng chẳng tốt đẹp gì. Trong chiến tranh với Mỹ, nó dù viện trợ nhưng chỉ theo kiểu mong Việt Nam như Bắc Triều Tiên, có nghĩa là làm Chí Phèo lâu lâu chửi đổng, chọt chọt một chút, mãi mãi chia để trị và phụ thuộc vào nó. Hoặc bảo “Anh đưa quân tình nguyện vào đánh giúp nha”. Nhưng mấy cái đầu của Việt Nam như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn…. chứ có phải của Kim Ủn Ỉn đâu. Họ thừa thông minh và đủ tài năng kinh nghiệm để không nghe theo. Việt Nam đánh một trận thống nhất luôn đất nước. Tăng sức mạnh lên toàn cõi Đông Dương và không còn là một cậu đàn em mà nhị sư huynh muốn làm gì cũng được. Mà là một cậu em có quyền nói chuyện phải trái với ông nhị sư huynh của mình.

Nhắc lại lần nữa, quân cờ “mâu thuẫn Liên Xô” chỉ là cái gốc rễ vấn đề, là cái bình phong cho cái sâu xa ở chiến cuộc. Như đã nói bên trên, nếu không có mâu thuẫn này, chiến tranh không có lý do để nổ ra. Và những cuộc đụng độ ở biên giới giữa Liên Xô và Trung Quốc đẩy mọi thứ lên đến cao trào để ra tối hậu thư cho Việt Nam “Anh chọn ai” là để che đậy một điều sâu xa hơn cho cái lợi của Trung Quốc nếu chiến tranh biên giới nổ ra.

Phải nói rằng, Lê Duẩn và bộ chính trị Việt Nam luôn nhất quán một vấn đề: đó là giữ mình ở thế trung lập trong cuộc đấu giữa hai ông anh này, luôn đẹp mắt với tất cả hai bên, luôn nồng ấm với cả Liên Xô và Trung Quốc. Điều này giúp VN dù phải đứng giữa mâu thuẫn của hai ông anh, vẫn nhận được viện trợ của cả hai và thống nhất được đất nước vào năm 1975. Đấy là một thành công cực kỳ hay. Và đó chính là con đường phát triển tốt nhất cho Việt Nam. Một bản lề chứ ko phải một kẻ đối đầu. Tuy nhiên kể từ khi VN thống nhất, và Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền. Mọi thứ không còn dễ dàng như trước nữa.

Đặng Tiểu Bình - con người đáng sợ nhất của Trung Hoa hiện đại trong cuộc thâu tóm quyền lực cần một cuộc chiến chiến tranh để làm điều kiện đủ cuối cùng cho quyền lực tối thượng của mình trong nội bộ ĐCS Trung Quốc. Đặng cần đánh Việt Nam vì 3 lý do:

1/ Cải tổ quân đội. Giành lấy quyền lực quân đội từ tay Hoa Quốc Phong

2/ Đoàn kết nội bộ người dân. Cùng nhìn vào một kẻ thù bất kỳ. Hướng đến cải tổ.

3/ Tranh thủ sự viện trợ và ủng hộ của Mỹ. Một cường quốc thật sự về kinh tế.

Vấn đề dẫn đến chỉ còn cuộc ĐẤU TRÍ giữa Đặng Tiểu Bình và Lê Duẩn trong ván cờ này. Ai hơn ai? Chính nó sẽ quyết định cho sự thắng thua của cuộc chiến ấy.

Đặng đã nhìn ra được điểm yếu của Lê Duẩn. Đấy là tinh thần dân tộc cao hơn tất cả. Bằng các hành động thăm Mỹ của Bắc Kinh, Đặng đã chơi một nước cờ khiến Lê Duẩn tức giận coi đấy là hành động phản bội. Lê Duẩn từng chửi thẳng mặt Chu Ân Lai và nói “Các vị đang mặc cả xương máu của nhân dân Việt Nam”. Ngược lại với sự cứng nhắc của Lê Duẩn. Đặng lại theo tôn chỉ của Winston Churchill: “Không có đồng minh vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh cửu.” Cho đến bây giờ, sau quá nhiều khổ đau của dân tộc, ta phải công nhận điều này đúng. Sau năm 1975, Trung Quốc ra thêm nhiều yêu sách, Lê Duẩn đề từ chối. Cả Chu và Đặng đều im lặng, họ đã gian tiếp đẩy Việt Nam đến gần với Liên Xô hơn. Bởi thực tế, họ cần Mỹ hơn cần hai kẻ này. (Trung Quốc đúng điếm thật sự. Cho nên khuyên các bác hạn chế tin thèng này.) Và kết quả. Việt Nam và Liên Xô ký một hợp tác mật thiết theo kiểu đồng minh quan trọng. Việt Nam còn cho phép Liên Xô điều máy bay quân sự tới cảng Cam Ranh. Sự kiện này giúp Đặng Tiểu Bình khiến cho người dân Trung Quốc tin rằng họ đang “lưỡng đầu thọ địch” và cần quân sự giải quyết.

Bước hai mà Đặng cần làm là “hà hơi thổi ngạt” cho anh Pôn Pốt – Khmer Đỏ để tạo ra chiến tranh biên giới phía Tây Nam. Việt Nam với lực lượng chiến đấu tinh nhuệ đã “hốt sạch” Khơ Me Đỏ trong vài nốt nhạc và lấy luôn Phnompenh. Nhưng chúng ta đã sai khi tiến quá sâu vào trong Campuchia để rồi ăn chính đòn du kích tàn bạo của Khmer Đỏ và sự phản đối của cộng đồng quốc tế, Việt Nam bị trở thành là kẻ xâm lược. Là nguyên nhân gì hẵng là một bí ẩn. Là tham vọng bá quyền? Là sự sa lầy trong vùng đất ấy? Dù có 1 trong 2 nguyên nhân này đi chăng nữa. Cái sai của Việt Nam chính là đã đóng quân ở trong Campuchia mà không giao cho người bản địa. Chính ở đây, nó trở thành một đòn “hồi mã thương” cực nặng vào Việt Nam. Đặng Tiểu Bình là người đã đâm con dao vào, thì chúng ta đã cho Đặng con dao ấy sau hành động cố thủ ở Phnompenh. Đừng quên, Pôn Pốt vẫn là do Trung Quốc điều động. Gốc rễ vấn đề là ở TQ. VN đã đánh phần ngọn.

Trung Quốc với việc coi Campuchia là đồng minh đã ra tay, và gây chiến với Việt Nam. Cuộc chiến đã nổ ra. Chỉ trong vỏn vẹn một tháng. Gần 10 vạn người chết ở cả hai phe. Nhưng ta đã đẩy được Trung Quốc ra khỏi đất nước. Quân đội ta được tôi luyện dày dặn trong cuộc Kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và được trang bị vũ khí hiện đại của Liên Xô. Đánh cho tên nhị sư huynh với lực lượng quân đội dù đông đảo nhưng cổ lổ sĩ lại ảo tưởng sức mạnh đó thâm tím mặt mày. 

Nhưng. 

Tôi có thể nói một điều:

Việt Nam đã thắng trong trận chiến biên giới này, nhưng đã thua trong cả cuộc chiến với Trung Quốc.

Đó là cái đau đớn nhất.

***

Tôi sẽ phân tích cho các bạn thấy hệ quả sau ngày 18/3/1979 – ngày kết thúc chiến tranh biên giới.

1/ Việt Nam:

- Sau hai cuộc chiến tranh với Pháp và Mỹ. Đất nước chỉ hòa bình được 4 năm, lại tiếp tục kiệt quệ bởi 2 cuộc chiến tranh biên giới. Máu vẫn đổ và tiếng súng vẫn rền vang. Tại sao ta lại làm khổ ta như vậy? Cho đến bây giờ nhiều người vẫn gọi TQ là kẻ thù truyền kiếp. Thực tế tôi nghĩ không sai, văn hóa, địa lý, lịch sử đều đúng. Nhưng xin đừng cứng nhắc. Hãy nhớ rằng "Trên thế giới này không có đồng minh vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh cửu". Đặng đã tin câu nói này và chiến thắng. Chúng ta đã bỏ qua điều này và khiến dân tộc ta chỉ có máu lửa chiến tranh.

- Trong khoảng thời gian 10 năm ấy. Việt Nam cực kỳ khổ sở ở các vấn đề ngoại giao khi luôn bị TQ o ép. Còn đồng minh Liên Xô đang đi vào những hồi chuông báo tử cuối cùng trước khi tan rã vào năm 1991. Trong 10 năm kiệt quệ ấy, nước xa chưa bao giờ cứu được lửa gần. Và cuối cùng Việt Nam đã gục ngã trong hội nghị Thành Đô 1991. 

2/ Trung Quốc:

- Trong khoảng thời gian 10 năm sau đó từ 1979-1989. Biên giới chúng ta luôn bị quấy nhiễu. Sau này mới hay, Đặng Tiểu Bình đã lợi dụng chiến tranh biên giới để cải tổ quân đội, và dùng chính quân đội Việt Nam để tập dượt cho sức chiến đấu ngày càng tốt của TQ. 

- Kinh tế Việt Nam bị tụt hậu và xuống dốc thê thảm cho đến khi quyết định mở cửa sau đại hội 1986 của tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và thủ tướng Võ Văn Kiệt. Nhưng TQ thì đã đổi mới từ năm 1976 rồi. Ta chậm hơn họ 10 năm. Nguyên tắc của họ vẫn là nguyên tắc “Kỹ trị” – Kỹ sư trị nước. Giang Trạch Dân là kỹ sư điện, Hồ Cẩm Đào là kỹ sư thủy lợi, Tập Cận Bình hôm nay là kỹ sư hóa dầu.

Còn ta? Ghét Trung Quốc ư? Ta đã thua họ quá nhiều. Ta cần sống với Trung Quốc vì ta ở cạnh họ. Địa lý đã ép VN phải ở cạnh kẻ láng giềng to béo này. Và hướng ngoại giao theo cách giành cái lợi cho mình bằng sự mềm mỏng chứ không bằng nắm đấm, học tập cái hay của Trung Quốc để đưa đất nước đi lên. Kinh tế là đòn bẩy cho an toàn đất nước trong thời đại này. Ngược lại kinh tế yếu sẽ bị nuốt. Nhìn bài học quá khứ để cẩn trọng cho tương lai. Chứ không phải mù quáng đâm đầu vào tiếng súng. Cũng đừng nên tự sướng nhiều. Trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài, Trung Quốc mới là cô gái đẹp, Việt Nam chỉ là cô gái xấu xí ở sát bên cô gái đẹp.

Tinh thần dân tộc là điều sáng nhất của dân tộc này. Nhưng tự ái dân tộc là điều sẽ hại chết chính chúng ta.

***

Có thể nói chiến tranh biên giới 1979 mang một tính chất vừa giống vừa khác so với các cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của các anh hùng dân tộc như Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo…bởi đó là một cuộc đụng độ mang tính âm mưu chính trị nhiều hơn tính chất xâm lược. Cách Đặng Tiểu Bình làm vào năm 1979 tương tự như cái cách Vương An Thạch – tể tướng đời Tống làm cách đây 10 thế kỷ. Khi ấy cũng vì cải tổ mà qua đánh Đại Việt. Nhưng bị Lý Thường Kiệt vả cho lệch mõm. Chuyện họ Đặng đánh VN năm 1979 cũng giống 2 lý do đầu đấy là quân đội và đoàn kết nội bộ dân tộc. Nhưng khác lý do thứ 3. Vương An Thạch không có Mỹ. Còn Đặng Tiểu Bình cần quan hệ với Mỹ. Chính lý do thứ 3 là điều để chúng ta hiểu sự phức tạp của mối quan hệ thời nay so với thời phong kiến. Và để ta biết rõ ta đang ở giai đoạn lịch sử nào. Sự phổ biến của cuộc chiến tranh này trên các phương tiện truyền thông phụ thuộc vào mối quan hệ căng thẳng hay êm ấm giữa hai bên Việt Nam và Trung Quốc. Hãy để ý, thông tin về chiến tranh biên giới chỉ được lan rộng khi vụ cắt cáp tàu Bình Minh diễn ra ở Vũng Tàu vào năm 2011. Kéo đến HD981 và cho tới bây giờ.

Khi Trung Quốc nhẹ nhàng, Việt Nam cũng nhẹ nhàng. Khi Trung Quốc láo toét với đường lưỡi bò. VN lập tức thể hiện thái độ. 

Kết luận:

Chiến tranh biên giới 1979 như tôi đã phân tích. Hãy xem đó là một bài học. Một bài học mà tôi tin rằng cần phải nghiền ngẫm kỹ hơn. Bởi đây là cuộc đụng độ trong thời hiện đại. Nơi chúng ta hiểu rằng trong cuộc chơi với kẻ đến từ Phương Bắc vào thời đại mà thế giới phẳng cùng các mối quan hệ chằng chéo với những cường quốc Mỹ, Nga, Nhật. Nước bé nhỏ cần làm gì tốt nhất. Đây là thời đại không phải sống 1 mình, tự cung tự cấp, đây là thời đại giao thương thế giới, các mối quan hệ và lợi ích dân tộc mới là vĩnh viễn.

Dùng chính bài học của năm 1978 đến năm 1991 để sáng suốt nhất cho hôm nay.

Bởi sau 37 năm, Việt Nam sẽ đấu với Trung Quốc ở hai mặt trận khác: BIỂN ĐÔNG và KINH TẾ.

Chiến tranh ư? Đừng. Nó là con quái vật !

***

Hôm nay, 17/2/2016, hãy mặc niệm cho những con người đã ngã xuống để bảo vệ biên giới năm 1979. Vong hồn sương gió của các anh,các chị, các chú, các bác, các em nhỏ, những người lính trẻ…đã ngã xuống cho biên giới tổ quốc yên bình. Dù sách sử có dửng dưng thế nào, thế hệ trẻ hôm nay không bao giờ quên ngày hôm ấy đã có những con người nằm mãi mãi xuống để giữ lại mảnh đất cho cha ông. Trong các cung đường phượt ở Tây Bắc, nơi non sông, hãy chỉ tay về phía biên giới và nói rằng “Nơi đây, mãi mãi, chúng tôi không bao giờ quên.”

CHUYÊN MỤC

NHẬT KÝ HOẠT ĐỘNG

BÀI ĐĂNG GẦN ĐÂY